Nguyên nhân của nợ xấu
Phân tích nguyên nhân của nợ xấu là một trong những điểm quan trọng cần phải được thực hiện để cung cấp các chiến lược đúng đắn, cũng như các phương pháp quản lý và điều trị thích hợp, khả thi và hiệu quả.
Quan điểm của các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Quản lý rủi ro tín dụng
Những quan điểm của rủi ro tín dụng
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài trong các khoản nợ xấu ngân hàng
Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam đến năm 2020
Hoạt động ngân hàng là hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, vì vậy mà các hoạt động của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế cũng như môi trường tự nhiên, các khách hàng sản xuất kinh doanh, khách hàng và các yếu tố đạo đức thuộc về bản thân ngân hàng .. .
1. Mục tiêu gây ra nợ xấu
1.1. Môi trường tự nhiên:
Thiên tai, bão, lũ lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh ... Đây là những nguyên nhân khách quan do sự thay đổi của môi trường tự nhiên đã gây ra sự thất bại hoạt động của khách hàng vay, đặc biệt là các khoản cho vay nông nghiệp, dẫn đến các khoản nợ xấu phát sinh.
Điều này gây ra ngoài sự kiểm soát và mong muốn của cả hai ngân hàng và khách hàng vay. Đây là nguyên nhân gây ra rủi ro không thể tránh được, thiệt hại do nguyên nhân này nên được những chia sẻ của nhà nước, và của xã hội.
thứ mười hai. Môi trường kinh tế
Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thị trường có tốc độ không thực sự bình đẳng cũng như mức độ phát triển thấp sẽ dẫn đến các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có khả năng tài chính đủ mạnh. Mặt khác, với những thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế vĩ mô như một sự thay đổi trong cơ chế lãi suất, tỷ giá ... chính sách xuất khẩu, hàng tiêu dùng ... thay đổi kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ chế đổi thay thế tài chính, sử dụng đất cơ chế ... cũng bị ảnh hưởng trực tiếp các hoạt động của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, làm cho các đối tượng rơi vào bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng của các đối tượng nợ tại các ngân hàng. Chúng ta có thể lấy ví dụ như một sự thay đổi trong lãi suất: lãi suất có xu hướng tăng nhanh sẽ làm tăng các khoản nợ xấu. Trong lịch sử, những hậu quả của việc tăng lãi suất không có điểm dừng khá nhiều đã được chứng minh. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 với mức tăng mạnh lãi suất trên thị trường trong nước của khu vực. Vào thời điểm đó, mức lãi suất ở Indonesia tăng mạnh, và khi vượt quá 30%, các ngân hàng đã bắt đầu phá sản. [28].
Điều này có thể được giải thích một cách dễ dàng: các doanh nghiệp mạnh mẽ sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm kiếm các nguồn vốn khác thông qua thị trường chứng khoán. Tăng nghi ngờ bây giờ dám chấp nhận mức lãi suất cao hơn. Phần lớn các chính xuất phát từ việc thiếu vốn, năng lực tài chính hạn chế, tín nhiệm thấp không cần phải có quyền truy cập vào các nguồn tài trợ khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng từ nhóm này.
Xem thêm: Visions của các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại
1.3. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng là không đủ nguyên nhân quan trọng góp phần nợ xấu. Các khoảng trống và sự chồng chéo của pháp luật sẽ gây ra chính quyền lúng túng trong việc xử lý các tranh chấp về tài sản thế chấp, các quy định về kế toán và kiểm toán đã không thực hiện đủ sức mạnh sẽ gây ra không đủ dữ liệu cơ sở vững chắc cho việc đánh giá cho vay.
1.4. Chính phủ bổ nhiệm tín dụng
Theo lý thuyết và kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa hoặc chuyển đổi, thường là vì vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhà nước đang bị ràng buộc tài chính "mềm", dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đến giá Giá đóng cửa khả năng tài chính của khách hàng vay. Ngoài ra, ở những nước này, chính phủ trung ương có xu hướng gây áp lực hoặc khuyến khích các ngân hàng cung cấp tín dụng vượt quá mức an toàn cho phép để đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra. Can thiệp của chính phủ trong việc cho vay ngân hàng có thể diễn ra trước hoặc sau khi giao dịch được hoàn thành
vớ. Cho đến những năm gần đây, ở một số nền kinh tế, các ngân hàng nhà nước vẫn có nghĩa vụ thực hiện các khoản vay chính sách, theo các chương trình phát triển trong những lý do chính phủ hoặc chính trị.
1.5. Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cao hơn. Mặt khác, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp vay vốn cũng dẫn đến hoạt động kinh doanh không hiệu quả do đó ảnh hưởng đến yếu khả năng trả nợ ngân hàng.
1.6. Đạo đức của khách hàng
Một số doanh nghiệp cố tình thông báo cho các dữ liệu tài chính của các doanh nghiệp không chính xác, gây hiểu lầm trong việc đánh giá và cấp tín dụng đã dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ của ngân hàng. (Rủi ro của sự lựa chọn ngược lại) Hoặc mình bây giờ thiếu ý thức trong việc sử dụng và trả nợ, không phải lo lắng, không có lãi suất vay vốn ngân hàng mặc dù đã có các quỹ
kinh doanh chính. Một số doanh nghiệp được coi là có lợi dụng sơ hở pháp lý để tính toán, chụp giật, gian lận, thông đồng, sử dụng không đúng cách của các quỹ vì lợi nhuận, không có ý định trả nợ vay (rủi ro đạo đức)
2. Nguyên nhân của khoản nợ xấu phát sinh chủ quan
Đây là lý do xuất phát từ bản thân ngân hàng. Đó có thể là do tác dụng của một tín dụng xấu, lỏng lẻo trong việc kiểm tra, giám sát hoặc các vấn đề liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng.
2.1. Chính sách tín dụng
Một chính sách tín dụng là không đầy đủ, không đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn đến tín dụng được cấp đúng đối tượng, các nguy cơ tiềm ẩn đối với các ngân hàng. Mặt khác, để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều ngân hàng đã bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng, cơ chế cho vay được đơn giản hóa, tự ý giảm số liệu của khách hàng. Bài học vẫn còn đó, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến từ các thị trường tài chính Mỹ có nguồn gốc sâu xa là những món ăn dưới chuẩn. Đây là những khoản vay có chất lượng thấp với rủi ro cao. Các
Các khoản cho vay không có thể nghiên cứu về khả năng thanh toán của khách hàng, chẳng hạn như thu nhập hàng năm, hồ sơ nghề nghiệp và tài sản ... và thường được bảo đảm bởi rất ít hoặc không có bằng chứng về khả năng tài chính vay. Mặc dù các khoản vay này chiếm 16% tổng số món vay thế chấp, nhưng nó đại diện cho hơn 50% của mệnh đề mặc định ở Hoa Kỳ [71].
2.2. Việc tổ chức kiểm tra, kiểm soát
Các nhiệm vụ kiểm tra và kiểm soát phát hiện sớm các bất thường trong hoạt động cho vay để tránh rủi ro. Tuy nhiên, các tổ chức, kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng nếu quá yếu và lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, lợi dụng hoạt động cho vay và nợ xấu phát sinh là không thể tránh khỏi
2.3. Chất lượng của đội ngũ nhân viên ngân hàng
Cán bộ tín dụng có giao dịch trực tiếp với khách hàng, nắm bắt được đặc tính và chất lượng của khách hàng, vốn vay. Điều này đòi hỏi cán bộ tín để có kiến thức, kinh nghiệm làm việc và khả năng phân tích, dự báo .. Một cán bộ tín ở mức yếu được phân loại không đánh giá tất cả các khả năng rủi ro liên quan đến các khoản vay sẽ dần dần đạt các quyết định cho vay sai lầm và nguy cơ nợ xấu phát sinh rất cao.
Một số quan chức của hệ thống ngân hàng đã giảm về chất lượng, đạo đức nghề nghiệp, thiếu ổn định nên đã lợi dụng công việc được giao để thông đồng với các con nợ, lợi dụng sơ hở của pháp luật để làm giàu bất hợp pháp đo lường, gây thiệt hại đến tài sản và các quỹ.
Đây là rủi ro đạo đức của cán bộ ngân hàng.
Ngoài ra, năng lực quản trị của các giám đốc điều hành ngân hàng là không tốt như: (1) quản lý lỏng lẻo, tất cả mọi thứ chứng khoán trắng cho cán bộ tín, (2) Việc quản lý của người dân là không đầy đủ như các hoạt động khác trong quản lý ngân hàng dẫn đến sai lầm trong việc cho vay quyết định, dẫn đến chất lượng tín dụng kém kéo dài. Ngoài ra, vấn đề rủi ro đạo đức cũng xảy ra khi các nhà lãnh đạo ngân hàng có mối quan hệ cùng có lợi với khách hàng của chúng tôi.
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ
Luận Văn A-Z