Tình hình nghiên cứu trong nước về nợ xấu ngân hàng


Tình hình nghiên cứu trong nước về nợ xấu ngân hàng


Ở trong nước, cũng có một số dự án nghiên cứu liên quan đến các vấn đề nợ xấu ngân hàng. Cụ thể, vấn đề nợ xấu đã được đề cập trong một số luận án tiến sĩ trong những năm gần đây.

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tuấn Anh (2004), Bùi Thị Thu Lan (2005), Vũ Hữu Biên (2010) nghiên cứu về vấn đề nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận án thạc sĩ của Nguyễn Thành Đô (2005), Mạc Đĩnh Extension (2006), Nguyễn Thị Vân Huyền (2010), Cu Hoài Thanh (2010) nghiên cứu về các biện pháp giảm thiểu và xóa nợ xấu tại các ngân hàng thương mại nước ngoài của Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài trong các khoản nợ xấu ngân hàng
Chiến lược kinh nghiệm tăng trưởng Philippine Ngân hàng (quỹ đất) trong bối cảnh hội nhập
Ngân hàng chiến lược tăng trưởng kinh nghiệm của Thái Lan (BAAC) trong bối cảnh hội nhập
Vai trò của thương hiệu ngân hàng
Nghiên cứu tổng quan về Bancassurance
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Hoàng (2007), Nguyễn Quốc Việt Nam (2008) đã tiến hành nghiên cứu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam "... Như vậy, mặc dù vấn đề nợ xấu đã được rất nhiều quan tâm trong luận án thạc sĩ, nhưng khi đào sâu vào các nội dung, các tác giả thấy rằng:

Thứ nhất: Việc lớn các nghiên cứu được thực hiện chỉ trong nghiên cứu về sự xuất hiện của các hạn chế đó
các khoản nợ xấu hoặc xử lý các khoản nợ xấu, nhưng không có hiệp hội tổng thể giữa hai vấn đề này. Trong khi đó thực hành đòi hỏi phải quản lý đồng thời của các khoản nợ xấu trên cả hai quan điểm: hạn chế các khoản nợ xấu phát sinh và xử lý các khoản nợ xấu phát sinh như thế nào.

Thứ hai: Các nghiên cứu về thẳng mới này tại một ngân hàng cụ thể mà đã mở rộng đến toàn bộ phạm vi của hệ thống ngân hàng.

Thứ ba: Chưa có bất kỳ tác giả để xem xét làm thế nào để xác định, đo lường, xây dựng giới hạn tỷ lệ nợ xấu áp dụng cho từng ngân hàng để truy cập Provisioning tính theo tiêu chuẩn quốc tế.

Xem thêm: Tình hình trong các nghiên cứu nước ngoài về nợ xấu ngân hàng
Đối với luận án tiến sĩ trong nước, nghiên cứu Phạm Quý Hòa (1994) đã chỉ ra các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Hữu Thủy (1996) đề cập đến việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Như vậy, hai nghiên cứu này là những đối tượng của nghiên cứu nêu lên là vấn đề rủi ro tín dụng của các ngân hàng, trong đó phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại Việt Nam và các ngân hàng cung cấp các giải pháp hạn chế và phòng ngừa phòng ngừa. Tuy nhiên, hai nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một rủi ro tín dụng mô hình quản lý cụ thể.

Luận án "Đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trong tỉnh CP Thành phố Hồ Chí Minh", Lê Tấn Phước (2007). Các tác giả đã làm rõ các khái niệm và lý luận trong việc bảo đảm an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đưa ra dự báo về xu hướng phát triển của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới để từ đó tập
các giải pháp có thể góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trong tỉnh CP Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong luận án, tác giả đã không mang về những bất cập trong hoạt động quản lý rủi ro, được coi là một yếu tố rất quan trọng góp phần đảm bảo an toàn tín dụng đối với hệ thống ngân hàng.

Gần đây nhất, có một công trình được bảo vệ khá thành công với những đóng góp thực sự có giá trị cho các hoạt động quản lý ngân hàng thương mại, chẳng hạn như một luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) với tên của chủ đề "cơ sở khoa học của mô hình xác định của quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam. " Chủ đề của các tác giả kết luận về mô hình cơ bản lý thuyết về quản lý rủi ro tín dụng. Vì vậy, không giống như hai nghiên cứu trên, tác giả Magical đã giải thích một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của quản lý rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng mô hình từ đó
phân tích các điều kiện thực tế để áp dụng trong các ngân hàng thương mại của Việt Nam. Mặc dù sự đóng góp của các tác giả là khá đáng kể nhưng nghiên cứu vẫn chưa đi sâu tác giả cụ thể về vấn đề nợ xấu và quản lý nợ xấu, mà là một biểu hiện của rủi ro tín dụng.

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) với chủ đề: "Nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập". Các tác giả đã đưa ra khái niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, dựa trên các nguồn thứ cấp của VCB trong 2006 - 2010, các luận án phản ánh chất lượng thực tế của khoản vay của ngân hàng trong điều kiện hội nhập. Các tác giả cũng rất thành công trong việc áp dụng mô hình hồi quy logistic để thử nghiệm các mô hình và giả thuyết nghiên cứu trong việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng xếp hạng
xếp hạng tín dụng khách hàng của pháp nhân tại VCB - chi nhánh Đà Nẵng. Các tác giả cũng cung cấp khả năng áp dụng mô hình trong công tác nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng.

Ngoài ra, vấn đề rủi ro tín dụng cũng được đề cập trong một số nghiên cứu khoa học khác nhau. Dự án nghiên cứu Viện cấp của Lê Thị Kim Nga (2001) về "Các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam", giải thích các vấn đề cơ bản của quản lý rủi ro tín dụng và đề xuất khung quản lý rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Các vấn đề nợ xấu cũng được đề cập trong một số tạp chí khoa học. Điều by Huỳnh Thế Du (2004) trong chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra một số mô hình của các khoản nợ xấu trên thế giới: bao gồm các mô hình xử lý nợ tập trung. VD: Hoa Kỳ và các nước Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc ... và giải quyết nợ mô hình phân cấp. Ví dụ như Hungary, Ba tác giả Lan..Tac phân tích rất cẩn thận về lợi thế - nhược điểm của từng mô hình. Ngoài ra, các tác giả cũng so sánh tương đồng về điểm khởi đầu và sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hệ thống ngân hàng Trung Quốc và cũng là một nghiên cứu cơ bản về nguyên nhân, khóa học và điều trị phát sinh nợ xấu ở Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2003 và 2004. Các tác giả của nghiên cứu của kết thúc với giá và các biện pháp tuyên bố trên trong việc xử lý các khoản nợ của cả hai nước. Vì vậy, tác giả của nghiên cứu Huỳnh Thế Du, vấn đề của quá trình giải quyết nợ xấu, cũng như mô hình quản lý xây dựng đối với các khoản nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam đã được đề cập, tuy nhiên, trong nghiên cứu này hoàn toàn không có thử nghiệm một mô hình về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ
ngân hàng xấu. Sự phát triển và thử nghiệm các mô hình này là rất cần thiết, bởi vì tỷ lệ nợ xấu và hoạt động quản lý nợ xấu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Việc kiểm định mối quan hệ này với nghiên cứu trong các ngân hàng thương mại của Việt Nam sẽ là cơ sở cho các tác giả để có những giải pháp cụ thể của họ.

Điều Nguyễn Đức Cường (2006), Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ, đề cập đến việc áp dụng các nguyên tắc của Basel trong hoạt động quản lý nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 4 bài viết của Hà Thị Thùy Vân (2007) cũng cung cấp các giải pháp quản lý rủi ro hoạt động giảm nợ xấu ngân hàng '

Tình hình nghiên cứu trong nước về nợ xấu ngân hàng