Nợ xấu được coi là một phần trung tâm trong việc quản lý nợ xấu
Khi một khoản vay đã được xác định là nợ xấu, ngay lập tức tắt xấu phần nợ. Tại thời điểm này, các tài liệu phải được hoàn nợ với những bằng chứng về tình trạng và nguyên nhân của tệ xuống hạng nợ. Các ngân hàng có thể sử dụng các cách sau đây để xử lý nợ xấu:
Ngăn ngừa nợ xấu
Đo lường nợ xấu
Xác định và phân loại nợ xấu
Quan điểm về quản lý nợ xấu
Quan điểm của các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Đổ lỗi cho những người đòi nợ cho nhân viên tín dụng
Đối với các khoản nợ với lý do chủ quan từ một nhân viên tín dụng, ngân hàng
quyết tâm sử dụng mọi phương tiện trách nhiệm pháp lý cho những người thu nợ. Trong
trường hợp thu hồi nợ không thể được, những người làm sai sẽ phải bồi thường cho các ngân hàng và cũng nhận được các hình thức kỷ luật. Với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, các ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn, sa thải, đã kiện ... Biện pháp này vừa hiệu quả cao trong việc thu thập các khoản nợ, cả hai tác động của giáo dục cán bộ, nhân viên ngân hàng.
Nếu món nợ này không phải do cán bộ tín dụng đã làm sai, các ngân hàng cũng có thể áp dụng các biện pháp liên quan đến việc thu nợ với nhiệm vụ của cán bộ tín để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ. Ngoài ra, các ngân hàng có thể phát triển các cơ chế để thu nợ tiền chi trả thúc đẩy động lực sáng tạo của những người có trách nhiệm.
Download miễn phí bài báo khoa học từ trang Science Direct
Tổ chức thu nợ từ khách hàng
Biện pháp này được áp dụng cho các khoản nợ xấu không thu hồi được.
Ngân hàng để xem xét khả năng phục hồi của khách hàng, và sau đó sẽ tiến tới đàm phán với khách hàng về các giải pháp để thực hiện các cam kết và yêu cầu của khách hàng.
Trên cơ sở này, các ngân hàng có thể áp dụng các tùy chọn sau đây:
- Gia hạn nợ: đây là phương án có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể tránh được những áp lực phải trả tiền để tiếp tục kinh doanh, các ngân hàng cũng giảm nợ quá hạn. Tuy nhiên, biện pháp này được giới hạn bởi thời gian được phép cho vay ngân hàng.
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ thông qua việc hoãn thuế (hoặc / và) làm giảm khối lượng tiền nợ gốc phải trả kỳ hạn nợ, nhưng có thể không làm giảm tổng nợ phải trả.
- Các ngân hàng có thể xem xét cấp thêm tín dụng để giúp khách hàng vượt qua những khó khăn và tạo khả năng thu hồi nợ trước. Đây không phải là tối ưu bởi vì nó đo cao nguy hiểm.
- Chuyển nợ xấu thành vốn chủ sở hữu với công ty cổ phần. Ngân hàng áp dụng phương pháp này khi rủi ro khách hàng kinh doanh do nguyên nhân khách quan nhưng triển vọng phục hồi. Trong thực tế, các ngân hàng hay việc sử dụng các biện pháp đó đối với sự suy giảm tạm thời bây giờ, có "tai nạn bất thường" không nghiêm trọng trong kinh doanh hoặc cho khách hàng có khoản nợ lớn mà vẫn còn cơ hội hồi phục.
Xử lý tài sản thế chấp
Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng từ chối trả khoản nợ quá hạn hoặc không còn khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ tiến hành thanh lý tài sản thế chấp (tài sản thế chấp). Để hỗ trợ cho việc thực hiện hợp đồng, khách hàng ngân hàng thường yêu cầu cam kết thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Ngân hàng bán tài sản thế chấp trên thị trường, hoặc thông qua một trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài hoặc bán cho công ty mua bán nợ.
Bán nợ
Bán nợ là các ngân hàng chủ nợ để chuyển nhượng quyền đối với khoản nợ còn lại hiện đang nợ hoặc bảng cân đối trong các tổ chức, cá nhân ngân hàng trong và ngoài nước có nhu cầu mua nợ. Việc chuyển giao các khoản nợ được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan. Một khoản nợ có thể được bán toàn bộ hoặc toàn bộ, bán cho nhiều người mua nợ và có thể được mua và bán nhiều lần. Phương pháp bán nợ có thể được thực hiện thông qua đấu giá các khoản nợ theo quy định về đấu giá tài sản hoặc thông qua đàm phán trực tiếp giữa người bán và người mua hàng hay qua môi giới. Giá cả có thể mua nợ thỏa thuận của các bên, trực tiếp hoặc thông qua người môi giới hoặc mức giá cao nhất trong trường hợp các khoản nợ được bán theo phương thức đấu giá.
Biện pháp này được sử dụng bởi các ngân hàng để thu hồi nợ xấu, thu hồi và xử lý nợ tồn đọng, làm sạch, lành mạnh bảng cân đối kế toán, bảo lãnh ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Thông thường, các tài khoản hiện mua bán nợ của các ngân hàng là nợ xấu, nợ tồn đọng đã lâu, khó khăn để xử lý bằng các biện pháp thông thường trong khi các biện pháp khác ngân hàng không có khả năng tài chính đủ hoặc khuôn khổ pháp lý để thực hiện. Các ngân hàng đánh giá các biện pháp để bán tất cả các khoản nợ là biện pháp hiệu quả nhất để giúp các ngân hàng nhanh chóng kiếm được tiền để thực hiện quay vòng vốn, mặt khác để giảm nợ xấu, cơ cấu lại danh mục đầu tư tín dụng, giảm chi phí quản lý chi tiêu và nợ xấu.
Khi bán các khoản nợ xấu, các ngân hàng thường chấp nhận mức giá bán thấp hơn mệnh để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng đến các khoản nợ còn lại. Để thực hiện có hiệu quả các biện pháp cần thiết để phát triển hơn nữa thị trường mua bán nợ và các ngân hàng trung ương cũng nên có những quy định và hướng dẫn cụ thể hơn cho các ngân hàng có một khuôn khổ pháp lý trong việc thực hiện.
Trong hoạt động mua bán nợ, các ngân hàng đã thành lập một tổ chức với công ty máy tính được gọi là quản lý nợ và khai thác tài sản công ty có chuyên môn cao (AMC). Công ty sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện việc mua tiếp theo. Ngoài ra, các ngân hàng có thể bán nợ thông qua việc mua công ty của nợ chính phủ, hay hiện nay, có một kỹ thuật mới đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới là các chứng khoán nợ. Chứng khoán được chuyển đổi một tập hợp các khoản vay thế chấp được lựa chọn của các ngân hàng mà trước đó không có một thị trường thứ cấp cho các giao dịch chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp. Các ngân hàng có thể sử dụng kỹ thuật này để xử lý nợ xấu của nó, nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán và giao dịch nợ.
Bù đắp bằng quỹ dự phòng.
Khi các biện pháp phục hồi khác không có hiệu quả, các ngân hàng có thể sử dụng tiền để trang trải DPRR thiệt hại tài sản của các khoản nợ xấu. Do các biện pháp chủ động cao thường được áp dụng bởi các ngân hàng thương mại lên đến xử lý nợ một cách nhanh chóng. Nhưng bản chất của biện pháp này là sử dụng các nguồn lực nội bộ để vượt qua gánh nặng nợ xấu của ngân hàng như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng. Việc sử dụng quá mức các giải pháp này làm giảm thu nhập của các khoản vay ngân hàng trong khi vẫn chưa hồi phục. Do đó, các ngân hàng nên tập trung vào các biện pháp để thu hồi nợ với chủ nghĩa cực đoan hơn.
Sử dụng các giải pháp pháp lý để thu hồi nợ
Các biện pháp tạo thuận lợi cho khách hàng ra tòa là ngân hàng lựa chọn thu nợ khi
các biện pháp trên là không khả thi. Ngân hàng có thể yêu cầu tòa án can thiệp để buộc khách hàng phải trả các khoản nợ, tài sản thế chấp vay chuyển hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ thì các chủ nợ có thể làm đơn xin tòa án để tiến hành một tuyên bố phá sản theo luật phá sản. Trong thực tế, quyền sử dụng giải pháp này thường không mang lại hiệu quả để thu hồi nợ của ngân hàng đối với các thủ tục phiền hà, khách hàng thường không còn khả năng trả nợ, tranh chấp pháp lý tài sản thế chấp hoặc không đủ giá trị để bù đắp cho các khoản vay ...
Hỗ trợ chính phủ
Đối với các khoản nợ xấu phát sinh từ các khoản cho vay theo chính sách của chính phủ, các ngân hàng thương mại phải dựa vào nguồn lực từ ngân sách nhà nước để bù đắp. Về bản chất, các khoản vay chính sách có thể được coi như một khoản vay bảo lãnh của bên thứ ba là các chính phủ. Vì vậy, khi các ngân hàng không thể thu hồi nợ từ khách hàng vay thuộc đối tượng này, sau đó chính phủ phải đứng lên để giải quyết ngân hàng. Chính phủ cũng có thể sử dụng toàn bộ ngân sách mua các khoản nợ xấu của các ngân hàng để xử lý dần dần qua nhiều năm, để giải thoát cho các ngân hàng không bị sa lầy trong cuộc khủng hoảng nợ xấu, giúp các ngân hàng tập trung vào các hoạt động kinh doanh. Biện pháp này cũng làm cho nó không thể áp dụng thường xuyên cho một ngân sách hạn chế, xử lý một khối lượng lớn các khoản nợ xấu sẽ rất tốn kém để giảm ngân sách cho đầu tư trong các lĩnh vực khác, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Luận Văn A-Z